Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào các cực tăng trưởng thì chưa đủ. Thành tựu là quan trọng, nhưng chưa đủ để bảo đảm Việt Nam sẽ đạt mục tiêu trở thành quốc gia mạnh về biển nếu không xử lý kịp thời các điểm nghẽn mang tính cấu trúc. Một số kết quả đã đạt được, nhưng chất lượng phát triển chưa tương xứng với tiềm năng; một số địa phương đi nhanh, nhưng liên kết vùng còn yếu; một số ngành tăng trưởng mạnh, nhưng sức ép lên môi trường, tài nguyên và hạ tầng cũng lớn dần.
Khoảng cách trước hết nằm ở mục tiêu phát triển. Nghị quyết 36 đặt mục tiêu đến năm 2030, kinh tế của các tỉnh, thành phố ven biển phấn đấu đạt 65-70% GDP cả nước. Tuy nhiên, tỷ trọng GRDP của các địa phương ven biển trong tổng GRDP cả nước những năm gần đây vẫn chưa đạt như kỳ vọng. Điều này cho thấy dư địa phát triển còn rất lớn, nhưng khả năng chuyển hóa lợi thế biển thành động lực tăng trưởng quốc gia vẫn chưa thật sự tương xứng.
Điểm nghẽn tiếp theo nằm ở thể chế. Dù nhiều văn bản, chương trình, cơ chế đã được ban hành, khuôn khổ pháp lý cho phát triển kinh tế biển nhưng Việt Nam vẫn thiếu một đạo luật mang tính nền tảng - Luật Phát triển bền vững kinh tế biển - để định hình cấu trúc quản trị tổng thể và hệ thống công cụ pháp lý thống nhất.

Những lĩnh vực có tiềm năng lớn như điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghiệp xa bờ, khai thác khoáng sản biển sâu, kinh tế biển xanh vẫn cần một hành lang pháp lý rõ ràng, ổn định và đủ sức dẫn dắt đầu tư dài hạn.
Những lĩnh vực có tiềm năng lớn như điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghiệp xa bờ, khai thác khoáng sản biển sâu, kinh tế biển xanh vẫn cần một hành lang pháp lý rõ ràng, ổn định và đủ sức dẫn dắt đầu tư dài hạn. Khi cơ chế cấp phép, giao khu vực biển, đánh giá tác động môi trường, chia sẻ lợi ích, huy động vốn xanh còn thiếu đồng bộ, nhà đầu tư khó có thể yên tâm triển khai các dự án lớn, nhất là những dự án đòi hỏi công nghệ cao, vốn lớn và thời gian thu hồi dài.
Cùng với thể chế, hạ tầng biển và ven biển vẫn là một rào cản lớn. Tuyến đường ven biển bắc-trung-nam chưa hoàn thành liên thông, làm giảm khả năng kết nối giữa các cực tăng trưởng biển. Nhiều cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền, cơ sở hậu cần thủy sản chưa đáp ứng yêu cầu của nghề cá hiện đại, nhất là yêu cầu truy xuất nguồn gốc và chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo, không theo quy định. Ở không ít nơi, cảng biển đã được đầu tư, nhưng kết nối sau cảng, trung tâm logistics, đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và kho bãi vẫn chưa đồng bộ, khiến chi phí vận tải còn cao, sức cạnh tranh của hàng hóa chưa được cải thiện như kỳ vọng.
Đáng chú ý, hạ tầng cho khoa học-công nghệ biển còn mỏng. Những phòng thí nghiệm ven biển, tàu nghiên cứu chuyên dụng, trung tâm mô phỏng đại dương, khu thử nghiệm công nghệ biển sâu, hệ thống quan trắc hiện đại vẫn chưa tương xứng với yêu cầu phát triển. Trong khi đó, muốn tiến ra biển lớn, muốn phát triển điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghiệp, khai thác tài nguyên biển sâu, quản lý môi trường biển và dự báo thiên tai chính xác, Việt Nam không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm truyền thống, mà phải dựa vào khoa học, công nghệ và dữ liệu.